Gần ba tháng trời, Lâm Huê Hồ đi khắp các ngả đường Sài Gòn – Chợ Lớn. Từ Cát Lái, Thủ Đức, Gò Vấp cho tới những doanh trại đóng rải rác quanh thành phố. Y không vội hỏi mua hàng. Y hỏi thủ tục. Hỏi quy trình. Hỏi ai ký, ai duyệt, ai đóng dấu, ai kiểm soát việc vận chuyển...
Những năm đầu thập niên 1950, Chợ Lớn không còn cái đói cào cấu như trước. Tình hình lương thực miền Nam không xảy ra nạn đói thảm khốc như ở miền Bắc năm 1945, nhưng nghèo thì vẫn còn.

Người ta không còn chết do đói nữa, song ai cũng phải xoay đủ đường để sống. Buôn bán nhỏ nhen lên ngôi. Chợ búa đông hơn. Hàng hóa luân chuyển nhanh hơn. Đồng tiền bắt đầu lưu hành hối hả.
Lâm Huê Hồ khi đó đã không còn là gã ve chai gánh từng mớ sắt vụn đi khắp hang cùng ngỏ hẻm. Sau vài ba năm cần mẫn, tằn tiện đến mức khắc khổ, y đã gom được một số vốn nho nhỏ. Không nhiều, nhưng đủ để y nghĩ tới một bước đi mới.
Lúc đó Lâm Huê Hồ 30 tuổi.
Một buổi chiều, trong căn phòng trọ ộp ẹp ở gần bến Bình Đông, Lâm trải mớ đồng bạc Đông Dương ra chiếu. Huỳnh Hương ngồi đối diện, tay vá lại chiếc áo cũ, mắt liếc qua đống tiền, rồi hỏi:
– Lứ tính làm gì với số này?
Lâm Huê Hồ im lặng. Y không đếm mà nhìn nó nhưng trong đầu lại nghĩ một con đường khác. Cuối cùng y nói:
– Buôn ve chai cực mà lời ít. Mình đổi cách làm đi.
Huỳnh Hương ngước lên:
– Lứ muốn đổi sao? Nói úa nghe…
Lâm Huê Hồ nhặt một đồng bạc lẻ, đặt lên lòng bàn tay vợ:
– Lứ bán một triệu tiền gạo, lời được một triệu mốt khó lắm. Nhưng úa mua chai dầu một đồng, bán hai đồng thì dễ lắm.
Huỳnh Hương sững lại một chút, rồi bật cười:
– Vậy úa mở tiệm tạp hóa ha?
Lâm Huê Hồ gật đầu.
Y hiểu rất rõ, người nghèo không bao giờ thiếu nhu cầu. Dầu ăn, muối, nước mắm, xà phòng, que diêm, gói thuốc rê… Mấy thứ nhỏ nhặt đó mới là thứ nuôi sống cả xóm làng.
Hàng tạp hóa quay đồng vốn nhanh, lời từng chút nhưng đều. Quan trọng nhất là không sợ bị tồn kho. Hết hôm nay, mai bán tiếp. Không ai mua gạo thì vẫn mua dầu. Không mua dầu thì mua muối.
Tiệm tạp hóa đầu tiên của Lâm Huê Hồ mở trong một căn nhà gỗ nhỏ, mặt tiền hẹp, bảng hiệu viết tay bằng mực đen. Không đèn màu. Không chữ son thếp vàng.
Buổi sáng khai trương, chẳng có ai tới chúc mừng. Chỉ có mấy bà nội trợ ghé vô mua chai nước mắm, ký gạo lẻ. Lâm đứng sau quầy, tay ghi sổ, miệng sởi lởi với khách. Đặc biệt tiệm tạp hoá của vợ chồng Lâm Huê Hồ không bao giờ bán thiếu.
Có khách chê Lâm khó, cũng có người lại gật gù nói y sòng phẳng. Nhưng rồi họ vẫn quay lại vì giá của Lâm không cao, chỉ chú trọng số nhiều.
Huỳnh Hương phụ trách phía trước, nói năng nhỏ nhẹ, nhớ từng mặt khách. Ai thích loại dầu nào, ai hay mua gạo gì, mấy ký, nàng đều nhớ. Lâm thì đứng phía sau ghi sổ, tính toán.
Tiền lời không dùng để tiêu xài. Không mua quần áo mới. Không mua nhà. Lâm Huê Hồ gom góp để mở tiệm thứ hai, rồi tiệm thứ ba.
***
Năm 1958, người ta bắt đầu nghe cái tên Lâm Huê Hồ xuất hiện ở nhiều góc chợ, và tại các quán cà phê cốc cho tới các quán ăn sang trọng. Không phải trên bảng hiệu, mà trong lời nói của giới kinh doanh.
Lâm Huê Hồ đã phát triển một loạt tiệm tạp hoá. Tiệm này lời nuôi tiệm kia. Tiệm sau mở bằng tiền tiệm trước. Không vay. Không hùn. Không phô trương. Mỗi tiệm chỉ cần đủ sống, nhưng cả mạng lưới thì sinh tiền đều đặn như mạch nước ngầm.
Hứa Sâm vẫn không nhận ra cách làm ăn của Lâm Huê Hồ mà còn chê bai:
– Bán mấy thứ lặt vặt đó, làm tới bao giờ mới khá?
Lâm Huê Hồ chỉ mỉm cười. Y đang bận nhìn dòng người ra vô, tay nhẩm tính số hàng hoá bán trong một buổi sáng. Với y, giàu không phải là lời một mối lớn. Giàu là tiền không đứng yên. Tiền phải di chuyển, phải quay, phải sinh thêm tiền khác.
Hiện tại, trong tay Lâm Huê Hồ đã có một mạng lưới tạp hóa phủ khắp Chợ Lớn. Nhưng vốn bao nhiêu, lời bao nhiêu thì không ai biết. Ngay cả Hứa Sâm, kẻ luôn dõi theo từng bước đi của y cũng chỉ thấy bề ngoài là những căn tiệm bán lẻ nhỏ bé, chẳng có gì đáng quan tâm.
Chỉ có vợ chồng họ Lâm hiểu rõ, từ những món hàng lặt vặt một vài đồng đó, y đã dựng lên thứ quan trọng hơn. Đó là khối tài sản âm thầm và dòng tiền luôn lưu chuyển.
Khi cuộc sống đã khá sung túc, Lâm Huê Hồ vẫn không bỏ nghề cũ. Chỉ là y không còn gánh ve chai đi từng con hẻm. Y làm ăn lớn hơn, đánh những phi vụ to hơn.
Mỗi sáng, ở bãi đất trống sau dãy nhà kho gần bến sông, người ta thấy phế liệu liên tục được chất thành đống lớn. Nào sắt vụn, thùng thiếc móp méo, khung giường gãy, máy móc hư hỏng, cả những món đồ gia dụng người ta quẳng đi... Lâm đều mua.
Thứ gì người khác xem là rác, y đều mua rồi cho mang về kho. Có người hỏi đùa:
– Hia mua chi mấy thứ đồ bỏ vậy?
Lâm Huê Hồ chỉ cười mà không trả lời.
Tại kho hàng, Lâm Huê Hồ nuôi một đội quân chừng hơn chục người để tháo, phân loại, chà rửa, sửa sang các đồ phế liệu. Các đinh vít còn dùng được thì để riêng, sắt gỉ thì mài lại, gỗ mục bỏ, gỗ còn tốt thì đóng thành thùng. Có món chỉ cần thay một cái bản lề, lau lại lớp dầu, đã trông khác hẳn.
Ban đầu Huỳnh thấy đóng phế liệu cũng ái ngại, lầu bầu:
– Bao giờ lứ mới không dính mấy thứ lỉnh kỉnh này?
Lâm Huê Hồ ngồi kiểm tra sổ sách, không ngẩng lên:
– Nó nuôi mình hồi nghèo, giờ vẫn vậy mà…
Huỳnh Hương im lặng. Bà quen với cách nói đó. Lâm Huê Hồ không bao giờ giải thích nhiều, nhưng lần nào cũng có lý của y.
Quả đúng vậy. Không ít món sau khi được tân trang, y bán lại với giá gấp bốn, gấp năm lần. Có món hiếm, có người cần đúng chỗ, y lời tới cả chục lần.
Lâm Huê Hồ không cần người khác nể. Y cần dòng tiền quay vòng. Từ tiệm tạp hóa sang bãi phế liệu, từ đồ mới sang đồ cũ, tất cả đều chung một cách làm. Đó là mua thứ người ta chán, bán thứ người ta cần.
Nhưng trong mắt thiên hạ, Lâm Huê Hồ vẫn chỉ là kẻ buôn bán lặt vặt. Đặc biệt đối với người đồng hương Hứa Sâm, gã này xem y là thứ “cù lần”, làm ăn nhỏ lẻ.
***
Tháng 7 năm 1956, buổi sáng nắng gắt, tới trưa mây từ phía sông Sài Gòn kéo về, thấp và xám, ép xuống mái lợp tôn những dãy nhà kho chắp vá. Không khí nặng mùi kim loại, mùi bao bố ẩm, mùi nước sông lẫn bùn non.

Bãi phế liệu của Lâm Huê Hồ nằm phía sau dãy nhà kho cũ, cách bến kinh Tàu Hủ không xa. Xe bò, xe kéo, thỉnh thoảng cả xe tải nhỏ ra vô liên tục. Sắt vụn chất thành từng đống cao ngang đầu người.
Những khung giường sắt chồng lên nhau như bộ xương khổng lồ. Thùng thiếc móp méo phản chiếu ánh nắng nhờ nhờ. Tiếng búa gõ chan chát, tiếng cưa sắt rít lên, tiếng người gọi nhau í ới hoà lẫn tiếng tàu máy ngoài bến kinh.
Giữa cái ồn ào đó, Lâm Huê Hồ ít khi lớn tiếng với ai. Miệng y luôn cười xã giao, ăn mặc lè phè. Dù y là dân Phúc Kiến, nhưng ra làm ăn y thích nói tiếng Tiều Châu hơn. Bởi Tiều Châu là quê vợ y.
Chuyện bắt đầu từ một mối quen rất tình cờ. Ba Phát là thợ sửa xe đạp ở Thủ Thiêm. Hắn dong dỏng cao, nước da sạm nắng, bàn tay lúc nào cũng ám mùi mỡ bò. Tiệm của hắn chỉ là một mái che thấp bên con đường đất.
Thủ Thiêm khi đó còn thưa nhà, bãi bồi loang lổ và lác đác vài xóm chài nhỏ. Nếu nhìn qua bên kia sông là những mái ngói chen chúc của Sài Gòn.
Ba Phát thường qua bãi phế liệu của Lâm Huê Hồ chơi, vừa để kiếm phụ tùng cũ, vừa để tán gẫu cho đỡ buồn. Trưa hôm đó, gió từ phía kinh Tàu Hủ thổi vô, hoà lẫn với mùi tanh nồng của khu chợ.
Ba Phát nằm tòn teng trên võng, mắt liếc nhìn Lâm Huê Hồ đang kiểm tra sổ sách trên chiếc bàn gỗ thấp. Gã hạ giọng, nói đủ để chỉ hai người nghe:
– A Chệt muốn làm ăn mối lớn hông?
Lâm Huê Hồ ngước lên:
– Mối ở đâu?
Ba Phát liếc quanh, nói nhỏ:
– Bên Hải đoàn 24 Cát Lái. Bên đó đang có mớ phế liệu quân dụng cũ tính thanh lý.
Lâm Huê Hồ im lặng. Y biết, Hải đoàn 24 là một đơn vị thuộc Hải quân Việt Nam Cộng hòa, được thành lập tại Sài Gòn vào cuối năm 1955. Đơn vị này đóng vai trò quan trọng trong việc tuần tra, kiểm soát đường thủy tại khu vực miền Nam. Cụ thể là vùng phụ cận Sài Gòn và Cát Lái.
Y thừa hiểu, mấy mối làm ăn dính tới quân đội, đặc biệt là Thủy quân Lục chiến thì không đơn giản. Nhưng cũng chính ở đó mới có hàng nhiều, giá thấp. Vậy là cú làm ăn lớn đầu tiên của Lâm Huê Hồ bắt đầu.
***
Ba Phát dẫn Lâm Huê Hồ qua Thủ Thiêm, rồi sang Cát Lái. Trụ sở Hải đoàn nằm sát sông. Hàng rào kẽm gai, lính gác ra vô nghiêm ngặt. Lâm Huê Hồ ăn mặc cà tàng, chân mang dép lê, nhìn chẳng khác gì một người mua ve chai đầu hẻm.
Người Ba Phát giới thiệu là trung úy Nguyễn Thúc Phụng trong Hải đoàn 24 đóng ở Cát Lái. Khi nghe Lâm Huê Hồ trình bày ý định mua phế liệu, Phụng đưa mắt nhìn y từ đầu tới chân, ánh mắt đầy nghi ngờ:
– Hàng nhiều lắm. Không phải mấy trăm kg sắt vụn đâu – Phụng nói – Anh có đủ tiền không?
Lâm Huê Hồ đáp gọn:
– Có bao nhiêu úa mua bấy nhiêu.
Trung uý Phụng ngần ngừ. Y rút thuốc, châm lửa, nhả khói chậm rãi coi bộ nghi ngại. Rõ ràng với dáng vẻ cò con của Lâm Huê Hồ không tạo được nhiều tin tưởng cho Phụng.
Không giải thích nhiều, Lâm Huê Hồ lẹ làng đặt ngay lên bàn một xấp tiền dày cộm. Xấp tiền nằm yên, nhưng đủ nặng để nói thay lời.
Trung uý Phụng liếc nhanh, nét mặt từ từ dịu hẳn. Gã ho nhẹ rồi gập hồ sơ lại:
– Được.
Giá được chốt rất nhanh. 30 tấn sắt, 300 ký nhôm, 50 ký đồng, tất cả là phế liệu. Tổng cộng 40.000 đồng. Một số tiền tương đương giá một chiếc xe hơi loại tốt thời đó.
– Tiền giao ngay khi nhận hàng – Trung uý Phụng nói thêm.
Lâm Huê Hồ gật đầu cái rụp.
Ba Phát đứng bên cạnh nghe mà toát mồ hôi. Còn Lâm Huê Hồ thì vẫn bình thản như không. Bởi trong đầu y, từng con số đã chạy sẵn. Sắt bán cho ai, nhôm đi đâu, đồng chia mối nào...
***
Qua sáng hôm sau, Lâm Huê Hồ thuê liền 3 chiếc xe tải loại 6 tấn.
Buổi sớm, bãi đất sau kho của Hải đoàn 24 còn đẫm hơi nước. Những cuộn sắt dài được khiêng lên thùng xe xếp ngay ngắn. Nhôm, đồng được đóng bao riêng, buộc dây chằng cẩn thận. Lâm Huê Hồ đứng một bên, tay cầm sổ, mắt không rời từng kiện hàng.

Mặt sông Cát Lái lấp lánh nắng. Mấy chiếc tàu máy đuôi tôm chạy ngang để lại vệt sóng đục dài. Đám lính gác lỡn vỡn ngoài kia, đôi lúc tới liếc cái rồi quay đi. Mọi thứ diễn ra trơn tru làm Ba Phát thở phào nhẹ nhỏm.
Rồi đoàn xe lăn bánh, bụi đường đỏ bay mù phía sau. Lâm Huê Hồ không ngồi xe đầu. Y chọn chiếc giữa, lưng dựa thùng gỗ, mắt khép hờ như đang ngủ. Nhưng đầu óc vẫn tính toán. 30 tấn sắt chia làm 3 mối. Nhôm đã có người đặt. Đồng bán lẻ có lời cao hơn. Từng con số đã xếp hàng chờ sẵn…
Khi đoàn xe di chuyển ra khỏi Hải đoàn 24 Cát Lái một lúc thì bầu trời ngưng nắng, vài đám mây kéo tới, che lắp một phần mặt trời như báo hiệu điềm dữ sắp sửa diễn ra.
Phía trước con lộ đất loang lổ ổ gà, một nhóm người xuất hiện. Họ mặc sắc phục Tổng nha Tài chính và Thanh tra Quân phí, trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam Cộng hòa. Họ đứng chắn ngang đường, mặt lạnh như tiền yêu cầu 3 chiếc xe tải lớn dừng lại.
Đơn vị này có nhiệm vụ chuyên lo về tài chính và quân phí cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, được hình thành từ năm 1952, do Quốc trưởng Bảo Đại làm Tổng chỉ huy.
Ban đầu chỉ là một bộ phận có nhiệm vụ giải ngân lương hàng tháng cho các quân nhân trực thuộc. Sau này quân số trong quân đội gia tăng, bộ phận này từng bước được cải tổ về mặt tổ chức và nhân viên nên quản luôn về quân dụng và thuế má.
Chiếc xe đầu thắng gấp.
Một viên chức bước tới, yêu cầu kiểm tra giấy tờ. Tài xế lúng túng. Giấy mua bán viết tay, không có giấy tờ theo quy định vận chuyển quân dụng thanh lý. Chỉ vài câu hỏi ngắn, không khí như chùng xuống.
Lâm Huê Hồ bước xuống xe. Giọng run run:
– Úa mua hàng thanh lý ở Hải đoàn.
Người của Tổng nha Tài chính yêu cầu mở thùng xe:
– Không có giấy vận chuyển…
- Số hàng này bị tạm giữ.
Ba chữ “bị tạm giữ” như dao đâm vô tim Lâm Huê Hồ.
Ba chiếc xe bị áp giải về Tổng nha Tài chính và Thanh tra Quân phí.
***
Những ngày sau đó Chợ Lớn vẫn ồn ào như cũ. Bãi phế liệu của Lâm Huê Hồ vẫn hoạt động nhưng y ít xuất hiện. Bởi y lo chạy đi chạy lại từ Tổng nha Tài chính tới Bộ Quốc phòng Quốc gia.
Tại hành lang dài, tường vôi vàng ố, quạt trần quay lừ đừ. Những bộ hồ sơ dày cộm đặt trên bàn, mùi giấy cũ trộn mùi ẩm mốc muốn hắc xì. Cuộc điều tra kéo dài hơn 10 ngày.
Những câu hỏi xoay quanh nguồn gốc lô hàng, thủ tục thanh lý, mục đích sử dụng. Từng tờ giấy được lật qua lật lại. Người ta nhắc tới hai chữ “quân dụng” bằng giọng nặng nề.
Lâm Huê Hồ ngồi lọt thỏm trên ghế gỗ, hai tay đặt trên đùi. Y không biện minh nhiều. Không cãi. Chỉ trả lời khi được hỏi.
Ở nhà, Huỳnh Hương không ngủ trọn giấc. Bà vẫn mở tiệm như thường, vẫn đón khách quen, vẫn cân gạo bán. Nhưng mỗi khi có bóng người mặc sắc phục đi ngang, tim bà lại thắt lại.
Tới ngày thứ 11, kết quả được thông báo ngắn gọn. Lâm Huê Hồ vi phạm thủ tục vận chuyển và mua bán quân dụng thanh lý không có giấy phép. Muốn khép lại vụ án và không đi tù, phải nộp phạt 100.000 đồng.
Số tiền đó gấp hai lần rưỡi giá trị lô hàng ban đầu.
Tin tức này lan khắp Chợ Lớn. Từ bến sông lên tới các tiệm tạp hóa, từ bãi phế liệu ra quán cà phê đầu hẻm. Người ta xì xằm bàn tán. Mấy bà nội trợ thì xuýt xoa thông cảm.
Ở quán cà phê đầu chợ, mái tôn lợp thấp, bàn gỗ cũ kỹ kê sát nhau. Mấy ông Hoa kiều ngồi vắt chân chữ ngũ, tay phe phẩy quạt giấy. Ngoài đường, xe xích lô lộc cộc chạy qua, rồi tiếng rao hàng xa xa lẫn với tiếng người bàn chuyện làm ăn trong quán tạo nên âm thanh bát nháo đặc trưng của Chợ Lớn.
Hứa Sâm ngồi ở bàn gần cửa, lưng tựa vô ghế. Gã mở nút áo cổ vì nực, điếu thuốc vẫn kẹp giữa hai ngón tay, tàn dài thòn lòn mà không thèm gạt. Hứa Sâm cười khẩy, giọng the thé:
– Ham mối lớn nên tiền mất tật mang.
Vài người hùa theo:
– Bản lĩnh đâu đòi đụng tới quân dụng!
Hứa Sâm rít một hơi thuốc dài. Ánh mắt ti hí của gã láo liên ra chiều khoái trá. Gã cười thầm, làm sao họ Lâm kia biết ai đã tuồn tin cho Tổng nha để “hốt” hết.
– Ngộ nói rồi. Làm ăn như ngộ mới chắc nè – gã nói không giấu điệu bộ hả hê.
Ở góc bàn bên kia, một tay râu rìa chen vô, thông cảm:
– Không phải ai cũng có đủ tiền nộp phạt.
***
Lâm Huê Hồ về nhà, mở rương gỗ dưới gầm giường. Những xấp tiền tích cóp từ tiệm tạp hóa, từ bãi phế liệu được lôi ra. Và y phải mất thêm vài ngày mới xoay xở mới đủ tiền nộp phạt.

Phi vụ đầu tiên kết thúc bằng một khoản lỗ chổng vó. 30 tấn sắt, 300 ký nhôm, 50 ký đồng không còn trong tay. 40.000 đồng tiền vốn mất trắng, thêm 100.000 đồng tiền phạt để không phải ngồi tù.
Tối hôm đó, trong căn phòng ộp ẹp, Huỳnh Hương nhìn chồng thật lâu. Lòng quặn đau khi nghĩ tới số tiền cực lớn đã ra đi, nhưng may mắn chồng bà thoát khỏi án tù.
Bên ngoài, mưa vẫn rơi đều trên mái tôn, tuy lỗ nặng nhưng Lâm Huê Hồ không nản lòng. Đồng tiền của y lần đầu tiên bị lệch hướng. Nhưng trong đầu y, nó là một bài học đắt giá để sau này chuẩn bị có những chuyến hàng quân dụng lớn hơn.
***
Không nản chí sau cú vấp ngã, Lâm Huê Hồ không hề thu mình lại. Y chỉ lặng đi vài tuần rồi rời nhà từ rất sớm, nhưng ít xuất hiện ở bãi phế liệu hơn trước. Còn các tiệm tạp hóa giao hết cho vợ quán xuyến.
Huỳnh Hương vẫn đứng trước quầy, vẫn cân từng ký gạo, rót từng chai nước mắm cho khách, kiếm từng đồng bạc cắc như thường ngày.
Gần ba tháng trời, Lâm Huê Hồ đi khắp các ngả đường Sài Gòn – Chợ Lớn. Từ Cát Lái, Thủ Đức, Gò Vấp cho tới những doanh trại đóng rải rác quanh thành phố. Y không vội hỏi mua hàng. Y hỏi thủ tục. Hỏi quy trình. Hỏi ai ký, ai duyệt, ai đóng dấu, ai kiểm soát việc vận chuyển...
Những buổi trưa, y ngồi trong quán cơm bình dân cạnh cổng doanh trại, lắng nghe mấy người lính nói chuyện thanh lý đồ cũ. Những buổi chiều, y có mặt ở hành lang các Nha, Ty để làm quen, nghe ngóng, tìm hiểu chi tiết mọi ngõ ngách của nghề thầu phế liệu quân đội.
Rồi Lâm Huê Hồ rút ra được một điều: Muốn thầu phế liệu quân đội phải có con dấu. Muốn hàng ra khỏi kho phải có chữ ký. Muốn xe lăn bánh phải có giấy vận chuyển. Muốn qua được trạm kiểm soát phải có người đứng tên. Mỗi tầng bậc đều có người giữ cửa.
Y bắt đầu làm quen.
Ban đầu chỉ là chào hỏi xã giao, sau đó là những bữa cà phê, rồi những bữa cơm chiều. Từ nhân viên quan thuế tới sĩ quan phụ trách hậu cần, các đơn vị đồn trú, chỗ nào có nguồn hàng y đều tìm cách kết thân.
Lâm Huê Hồ đãi đằng, kết nối. Y không nói nhiều về mình, mà nói về chuyện làm ăn, về sự “thuận tiện” cho đôi bên. Y sử dụng phong bì đúng lúc, đúng chỗ.
Những cuộc gặp gỡ diễn ra trong các quán ăn Hoa kiều. Chỗ có đèn chùm hắt xuống bàn tròn. Rồi trong phòng làm việc của các sếp có cửa chớp khép hờ, trong những buổi tiệc có rượu mạnh rót đầy ly.
Lâm Huê Hồ không còn là người lầm lì, chỉ biết ghi sổ sách. Y lắng nghe nhiều hơn, nhớ tên từng người, nhớ chức vụ, nhớ cả thói quen uống rượu hay thuốc lá họ hút.
Sau ba tháng, y hiểu rõ đường đi của một lô hàng quân dụng được thanh lý. Từ kho để có giấy tờ, từ giấy tờ ra xe, từ xe qua trạm, từ trạm tới kho riêng. Nhưng hiểu thôi chưa đủ.
Lâm Huê Hồ rút ra bài học đắt giá từ lần trước rằng, đừng bao giờ đứng tên một mình, phải tìm người có thế lực đứng chung. Y bắt đầu rủ thêm vài dân biểu, vài vị tướng tá, cùng một số quan chức của các Nha, Ty hùn hạp chung.
Không cần họ bỏ vốn, chỉ cần cái tên, y nói:
– Tiền bạc úa lo tất.
Câu nói đó được thốt ra bằng giọng chân thành, hết sức tình cảm của Lâm Huê Hồ. Y nhanh chóng nhận lại sự đồng ý cộng tác mà mình đang mong đợi.
Lâm Huê Hồ hiểu rõ điều người ta cần không những là tiền, mà là sự an toàn và được tôn trọng, được kính nể. Đối với y, không cần giấy tờ ràng buộc, chỉ có lời hứa và lợi ích chung. Bởi y là bậc thầy về chữ tín và nghệ thuật sử dụng đồng tiền.
Chợ Lớn bên ngoài vẫn ồn ào như cũ. Nhưng ở một tầng sâu hơn, Lâm Huê Hồ đã bước sang một cách làm ăn khác. Y không chỉ có cách quay vòng đồng vốn, mà quay luôn cả những con dấu mà y cần.

Hội Tam Hoàng Sài Gòn - Chợ Lớn (Kỳ 4)
Doanh nhân Lưu Ngọc Long Thanh - người phụ nữ quyền lực của Vietbamboo và dự án mở hãng hàng không tại Việt Nam
Hội Tam Hoàng Sài Gòn - Chợ Lớn (Kỳ 5)
Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty cổ phần Golden Dragon Corporate quý phái,sang trọng tại lễ ký kết xây dựng dự án bệnh viện
Kiều Nguyễn Phương Duy - Chàng trai nhẹ nhàng nhưng sâu lắng
Lễ công bố Quyết định và trao Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng cấp cơ sở giáo dục
Hội Tam Hoàng Sài Gòn - Chợ Lớn (Kỳ 9)
Doanh nhân hát hội tụ dàn thí sinh đầy tiềm năng
“Nàng tiên cá” đến vương quốc Thái Lan
Câu lạc bộ Doanh nhân Bạc Liêu – Cà Mau tại Thành Phố Hồ Chí Minh họp mặt ‘Cà phê Đồng hương’ lần 2