top

Tướng cướp Điềm Khắc Kim (Phần 2)

Thứ 6, 29-05-2026 | 07:38:35 admin

Minh con vừa từ một sòng bài nhỏ gần ngã năm Chuồng Chó bước ra. Trong túi nó có ít tiền vừa kiếm được do mấy trò nhóc dẫn mối chia. Không nhiều, nhưng đủ để nó cùng đám bụi đời ăn nhậu vài bữa.

CHƯƠNG 2: BƯỚC VÔ BỤI ĐỜI

Những tháng gần cuối năm 1959, xóm Chuồng Bò Hạnh Thông Tây bắt đầu trở lạnh về đêm.

Cái lạnh của vùng ngoại ô Sài Gòn hồi đó không giống trong thành phố. Nó không buốt da, nhưng len lỏi, ẩm thấp và hôi mùi bùn đất. Những bãi cỏ hoang quanh sân bay Tân Sơn Nhứt ban đêm gió thổi ào ào, mang theo tiếng chó sủa vọng từ xa lại.

Con đường đất dẫn vô xóm Hạnh Thông Tây, sau một cơn mưa chiều trở nên nhão nhoẹt. Dấu bánh xe bò, xe lam hằn sâu thành từng rãnh dài đọng nước đỏ ngầu. Mỗi lần có người vô tình bước ngang, bùn bắn tung tóe lên ống quần.

Xa xa ngoài đường Quang Trung, vài ngọn đèn dầu leo lét, hất ánh sáng vàng vọt xuống sân trước quán cóc, được dựng bằng cây tạp và tôn cũ.

Tiếng radio nhà ai mở vọng cổ nghe rè rè trong gió:

“...Từ là từ phu tướng…”

Rồi tắt ngang vì mất điện.

Trong xóm Hạnh Thông Tây, người ta đã quen với cảnh tối thui như vậy. Trẻ con nằm co ro trên mấy bộ ván cũ. Người lớn ngồi quạt muỗi, hút thuốc rê. Họ nói chuyện chiến sự, chuyện lính tráng, chuyện giá gạo ngoài chợ mới tăng thêm vài cắc…

Căn nhà của gia đình Lê Văn Minh lúc nào cũng như đông hơn nhà người khác. Mười mấy con người chen chúc trong cái chòi vá víu bằng tôn mục. Gió lùa qua vách nghe rin rít. Mỗi lần máy bay quân sự cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhứt, mái tôn lại rung bần bật như muốn bung ra.

Minh ngồi ngoài cửa. Nó co hai chân gầy nhẳng, hai tay ôm gối, mắt nhìn ra con hẻm tối om trước mặt. Cái áo sơ mi cũ bạc màu rộng thùng thình trên thân hình nhỏ thó, khiến nó càng còm cõi hơn tuổi.

Dưới ánh đèn vàng yếu ớt hắt từ nhà bên cạnh qua, khiến gò má nó nhô cao, hai mắt sâu và tối. Trong nhà, bà Đeo đang ru một đứa em khóc ngằn ngặt vì đói bụng. Ông Rim chưa về. Có lẽ còn trực đâu đó trong doanh trại.

Minh cúi đầu nhìn đôi chân trần dính đầy bùn đất khô. Ngày mai nó vẫn phải dậy từ lúc trời chưa sáng để đi lấy bánh. Ngày mốt cũng vậy. Rồi tháng sau, năm sau… cuộc đời nó lúc này giống hệt con hẻm trước mặt. Tối, hẹp và không thấy đường đi ra.

Sống riết trong cái xóm Chuồng Bò đầy phức tạp đó, Lê Văn Minh lớn lên không giống những đứa nhỏ bình thường. Quanh nó đâu đâu cũng là dân tứ xứ đầu đường xó chợ.

Người làm thuê. Kẻ đâm mướn chém thuê. Dân trốn lính. Dân bài bạc. Dân bụi đời từ khắp nơi dạt về đây. Ban ngày còn đỡ chớ tới chiều tối, mấy quán cà phê cóc bắt đầu đỏ đèn là đủ thứ hạng người lộ mặt.

Có thằng mới mười mấy tuổi đã biết hút Salem phì phèo. Có đứa chuyên móc túi ngoài bến xe lam. Có đứa đi theo đám anh chị để làm “ăng-ten” khi tụi lớn ăn hàng.

Ở cái xóm đó, ngoan hiền đôi khi đồng nghĩa với… bị ăn hiếp. Minh thì quá hiểu điều đó.

Ban đầu, nó chỉ đi theo tụi lớn để được chia điếu thuốc Salem, hay được bao ly cà phê đen đặc quánh ngoài đầu hẻm. Mấy thằng bụi đời lớn hơn hay khoái thằng Minh vì nó lì, bị đánh không khóc, bị bắt không khai.

Được giao mấy việc lặt vặt Minh đều làm tốt. Từ đó, tụi nó bắt đầu cho Minh đi theo. Ban đầu là bán thuốc lậu. Rồi tới cá độ đá gà. Rồi đứng cảnh giới khi tụi lớn bẻ khóa lấy đồ ngoài chợ đêm.

Có bữa, Minh còn lẻn vô mấy xe bò đậu sau chợ Hạnh Thông Tây, nhanh tay chôm mấy lon sữa hộp hay vài con cá khô đem về. Nó xem là chiến lợi phẩm để chứng tỏ bản lĩnh của mình.

***

Ông Kalon Rim bắt đầu để ý tới thằng con trai lớn nhiều hơn. Ông thấy nó đi sớm về khuya, gương mặt nó ngày càng lầm lì. Nó không còn sợ đòn như hồi trước nữa.

Có bữa giữa đêm ông đi trực về, bước vô nhà đã thấy Minh nằm ngủ mà có con dao nhỏ giắt trong lưng quần. Ông Rim đứng nhìn nó rất lâu.

Ngoài trời, gió đêm Gò Vấp thổi qua mấy bụi chuối sau hè nghe xào xạc. Tiếng chó sủa vọng từ đầu xóm lại. Cái xóm Chuồng Bò về khuya chưa bao giờ thật sự yên.

Ông Rim châm điếu thuốc rê, rít một hơi dài. Khói thuốc bay lờ mờ dưới ánh đèn dầu leo lét, làm gương mặt ông càng thêm hốc hác. Ông hiểu rõ cái xóm này hơn ai hết.

Ở đây, con nít lớn nhanh lắm. Nhanh theo kiểu chưa kịp biết chữ đã biết chửi thề. Chưa kịp học làm người đã học cách cướp giật để sống…

Rồi một buổi chiều, Minh vừa về tới nhà đã thấy ông Rim ngồi trước cửa. Bộ đồ lính còn chưa thay. Khẩu súng ngắn vẫn đeo bên hông. Gương mặt ông lạnh tanh. Minh khựng lại.

Ông Rim ngoắc tay:

— Lại đây biểu!

Minh bước tới. Chân vẫn còn dính bùn đất ngoài chợ. Ông Rim nhìn thẳng vô mặt nó:

— Tao nghe mày đi theo đám bụi đời ngoài chợ hả?

Minh im re.

— Tao hỏi… phải hông?

Nó cúi đầu:

— Tui chỉ đi chơi…

“Chát!”

Bàn tay ông Rim quất ngang mặt nó mạnh tới mức đầu nó bật vô vách ván. Mấy đứa nhỏ trong nhà giật mình im thinh thít.

Bà Đeo đang nhóm bếp cũng quay phắt lại:

— Trời đất! Đánh gì dữ vậy?

Ông Rim gằn giọng:

— Không đánh mai mốt nó thành du đãng!

Rồi ông quay sang Minh. Đôi mắt đỏ ngầu vì tức giận:

— Nhà này nghèo thiệt nhưng tao chưa chết! Mày mà theo đám mất dạy ngoài xóm, tao bẻ chân mày!

Minh đứng im, một bên má đỏ rần, nhưng trong mắt nó… không có vẻ sợ hãi. Chỉ có thứ gì đó âm ỉ. Cứng đầu và lầm lì. Ông Rim nhìn thằng con trai trước mặt, bỗng thấy bất lực trong lòng.

Ông từng gặp nhiều hạng người trong quân ngũ. Từ lính đào ngũ, từ dân anh chị tới bọn cướp có súng. Và lần đầu tiên… ông thấy trong mắt thằng con mình có thứ gì đó bất trị.

Đúng như suy đoán của người cha tội nghiệp, Lê Văn Minh càng lúc càng khó dạy. Nó không còn là thằng nhỏ bán bánh mì cúi đầu nhịn nhục ngày nào nữa.

Sau những lần bị chèn ép ngoài chợ, bị quăng vô giữa cái xóm bụi bặm đầy du đãng… trong người nó bắt đầu xuất hiện một thứ rất khó kềm. Nó lỳ và bất cần.

Những trận đòn của ông Rim không làm Minh sợ. Ngược lại, nó càng lỳ lợm hơn. Có khi mới bị đánh xong, nó ngồi ngoài mé rãnh nước hút thuốc rê, phà khói trắng đục lên trời xem như chẳng có chuyện gì xảy ra.

Càng lúc, xóm Chuồng Bò bắt đầu xuất hiện nhiều đám trẻ bụi đời tụ tập hơn trước. Ban ngày tụi nó lang thang ngoài chợ Hạnh Thông Tây. Tối tới thì kéo nhau ra mấy quán cà phê cóc, ra bãi đất hoang sau phi trường hay mấy căn nhà bỏ trống để hút thuốc, đánh bài, uống rượu đế.

Đứa nào cũng gầy nhom. Mặt mày non choẹt nhưng ánh mắt đã đầy vẻ già đời, ma mãnh.

Minh nhập vô đám đó lúc nào không ai nhớ rõ. Chỉ biết từ dạo đó, nó ít về nhà hơn. Có bữa đi từ sáng tới khuya mới lò dò xuất hiện. Có khi ngủ luôn ngoài bến xe lam hay mấy sạp thịt ngoài chợ xã.

Thường thì mỗi tối bà Đeo ngồi chờ trước cửa, năm thì mười hoạ mới gặp nó đi về:

— Mày đi đâu dữ vậy?

Nó không trả lời. Chỉ mở lu nước, xối ào ào lên đầu cho tỉnh rồi nằm vật xuống nền nhà ngủ như chết. Ông Rim nhìn nó lắc đầu, ngán ngẫm.

Sau nhiều trận đòn và những lần bỏ nhà đi bụi rồi quay về, Lê Văn Minh bắt đầu trở thành tên lưu manh. Nó không còn sợ ai nữa. Cũng không còn thiết tha học hành.

Trường lớp đối với nó lúc này chỉ là chỗ để ngủ gục hoặc đánh lộn. Có bữa chưa tan học, nó đã trèo hàng rào đi mất. Thầy giáo la riết rồi cũng chán, thấy nó là lắc đầu.

Những ngày tháng lang thang ngoài đường dạy cho nó nhiều thứ. Nó biết nhìn mặt để đoán ai dễ ăn hiếp. Biết rành chỗ nào trong chợ dễ chôm đồ. Biết lúc nào lính tuần đi ngang để tránh…

Minh bắt đầu lún sâu hơn. Ban đầu là móc túi lặt vặt, rồi giựt đồ. Rồi theo tụi lớn đi “lụm” hàng ngoài chợ đêm. Đám bụi đời trong xóm bắt đầu nhìn nó bằng ánh mắt khác.

Người nó lúc này vẫn gầy nhẳng, nhỏ xíu nên có biệt danh là Minh con. Nó không từ bỏ một thủ đoạn trộm cắp, giật dọc nào để sống, kể cả dẫn gái cho khách vào xóm chơi bời.

Năm đó, Minh con mới 12 tuổi.

***

Ông Kalon Rim bó tay trước thằng con ngỗ nghịch.

Ban đầu ông còn lựa lời dạy dỗ. Ông ngồi ngoài hiên hút thuốc rê, giọng chùng xuống:

— Minh… nghèo thì nghèo, chớ đừng để người ta kêu mình là đồ du đãng.

Nó ngồi dưới nền đất vá chiếc dép đứt quai. Nó nghe nhưng không trả lời. Ông Rim thở dài. Ông từng nghĩ chỉ cần đánh vài trận, la vài tiếng, nó sẽ sợ mà quay đầu.

Nhưng không. Càng lớn Lê Văn Minh càng giống cỏ dại ngoài bờ ruộng Gò Vấp. Đạp xuống rồi… nó vẫn mọc lên.

Mấy hôm sau, ông Rim nghe người ta nói, ở ngoài chợ thằng Minh đi theo đám bụi đời giựt đồ của khách đi xe lam. Ông nổi máu xung thiên, trị một trận cho nó tỡn.

Khi Minh con vừa lò dò về tới đầu xóm, ông Rim đã đứng chờ sẵn trước cửa. Mặt ông đỏ gay, cặp mắt long lên vì tức giận:

— Vô đây!

Minh con bước vô nhà. Chưa kịp đứng yên, một cây roi mây đã quất “chát” ngang lưng. Mấy đứa nhỏ hoảng hồn khóc ré. Bà Đeo chạy lại can:

— Thôi ông! Đánh chết nó bây giờ!

Ông Rim lúc đó như không còn nghe gì nữa. Ông trói hai tay thằng Minh ngoặt ra sau bằng sợi dây bố cũ, rồi kéo nó treo lên cây xà ngang giữa nhà.

Căn nhà tôn thấp lè tè nóng hầm hập. Ánh đèn dầu chao qua chao lại theo gió. Bóng thằng Minh đổ dài lên vách như cái bóng ma mị.

Hai chân Minh con bị kéo lên khỏi mặt đất. Đầu nó chúi xuống. Máu dồn lên mặt đỏ rần. Ông Rim cầm cây roi đứng thở hồng hộc:

— Tao cho mày chừa cái thói mất dạy!

“Chát!”

Roi quất xuống. Mấy đứa em của Minh con đứng nép vô góc nhà khóc ngất ngất. Có đứa sợ quá chui luôn xuống gầm gường. Bà Đeo ôm ngực giãy nảy:

— Trời ơi… nó chết bây giờ!

Nhưng điều làm ông Rim giận hơn… là thằng Minh không khóc. Nó cắn răng chịu đòn. Mồ hôi, máu mũi chảy dọc xuống trán, hai mắt nó đỏ ngầu…

Đêm đó, mưa đổ xuống xóm Chuồng Bò như trút. Nước từ ngoài hẻm lại ồng ộc chảy vô nhà. Minh con được thả xuống nằm sóng soài dưới nền đất ướt lạnh. Lưng nó đầy những lằn roi tím bầm.

Bà Đeo lặng lẽ lấy khăn lau máu cho nó, run giọng nói:

— Sao mày không xin lỗi ba mày đi…

Nó vẫn im lặng, vẫn chứng nào tật đó. Tất cả đều vô phương đối với thằng con trời đánh.

Rồi ông Rim cũng nói từ bỏ nó luôn…

Ít lâu sau ông Kalon Rim bỏ nhà, từ biệt cái xóm tối tăm mà ông từng nghĩ, chỉ cần cố gắng thêm chút nữa là sẽ nuôi nổi đàn con. Nhưng ông Rim đã lầm. Cái nghèo ông không sợ, mà sợ vì không dạy dỗ được con cái mà mắc cỡ với xóm giềng.

Hôm đó, trời Gò Vấp xám đục. Mây thấp. Gió thổi hun hút qua bãi cỏ hoang quanh phi trường Tân Sơn Nhứt. Con đường đất trước xóm Chuồng Bò còn loang loáng nhiều vũng nước sau mưa đêm.

Ông Rim mặc bộ đồ lính cũ đã sờn vai. Cái túi vải bạc màu vắt ngang người. Ông đứng trước cửa nhà rất lâu.

Ở cái xóm này, từ trẻ con, thanh thiếu niên, tới người lớn tuổi… toàn những phần tử tội phạm, trong đó có thằng Minh. Ông không còn chịu nỗi nữa nên ra đi biền biệt. Có thể đã về quê hương ông ở Nam Vang…

Từ ngày ông Rim bỏ đi, căn nhà càng tiêu điều hơn trước. Bà Đeo gần như ngã quỵ vì mọi gánh nặng đổ ụp xuống vai người đàn bà ít học, vốn đã kiệt sức vì mười mấy đứa con nheo nhóc.

Còn Minh… nó được tự do. Không còn ai la mắng, không còn ai cấm cản. Minh con bắt đầu sống hoàn toàn ngoài đường phố.

Ban ngày nó lêu lổng ngoài chợ, ban đêm tụ tập với đám bụi đời. Từ trẻ con, thanh niên cho tới mấy thằng du đãng lớn tuổi trong khu Chuồng Bò… đứa nào nó cũng quen mặt.

Những đêm cuối năm 1959, trời Gò Vấp lạnh hơn thường lệ. Mấy quán cà phê cóc ngoài đường Quang Trung vẫn còn sáng đèn. Tiếng nhạc boléro từ cái máy hát cũ phát ra rè rè giữa khói thuốc và tiếng gõ muỗng.

Minh ngồi một góc tối. Trên bàn là ly cà phê đen, đặc quánh mà một thằng du đãng lớn mới bao cho nó. Nó ngồi hút thuốc, mắt nhìn dòng người qua lại ngoài đường Quang Trung lấm lem bùn đất.

Bỗng một bàn tay đặt xuống vai nó. Minh quay phắt lại… Sơn “đầu bự”. Người đàn ông mà trước đó từng trốn trong căn nhà của nó - nó đã kéo mền che lại cứu mạng. Sơn nhìn nó một hồi rồi nhếch mép:

— Tao biết sớm muộn gì mày cũng ra đây sống thôi.

Minh con im lặng. Sơn “Đầu bự” kéo ghế ngồi xuống đối diện, điếu thuốc trên môi đỏ lửa, lập lòe trong bóng tối.

***

Mấy ngọn đèn dầu treo trước hiên nhà xóm Chuồng Bò chập chờn trong gió. Xa xa phía phi trường Tân Sơn Nhứt, ánh đèn trắng xanh quét ngang lưng trời đen kịt. Tiếng máy bay gầm lên từng hồi, kéo dài như tiếng kim loại cào vào màn đêm.

Con đường đất của xóm Chuồng Bò sau cơn mưa chiều nhão nhoẹt bùn. Nước đọng thành từng vũng đen ngòm, phản chiếu ánh đèn méo mó. Bà Đeo bước đi chậm chạp giữa con đường đó.

Đôi dép nhựa mòn đế lún sâu xuống bùn nghe “lép nhép” theo từng bước. Bộ bà ba bạc màu của bà Đeo dính nước mưa và đầy bùn đất. Gió thổi qua làm mái tóc đã điểm bạc của bà bay rối trước trán...

“Thật tội nghiệp cho người đàn bà nghèo mất chồng, mất con…” – ai đó xầm xì.

Bà Đeo không mong chồng mà lại thương nhớ thằng Minh nhiều hơn. Hôm nào rảnh là bà lặn lội đi tìm nó khắp nơi. Chỗ nào có đám trẻ bụi đời đánh giày, bán báo là bà tìm tới. Chỉ để mong gặp Minh con, kêu gọi nó trở về với gia đình…

Nhưng đứa con ngỗ nghịch đó đã gần như không màng tới người mẹ đã mỏi mắt trông đợi. Nó cũng chẳng nhớ gì tới gia đình. Nó đi biệt dạng, biệt hình. Không ai thấy nó ló mặt về cái xóm nghèo, huống chi ghé về nhà thăm mẹ nó.

Ở cái quán cà phê cóc cạnh bãi đất hoang gần ngã ba Chú Ía, tiếng cười nói vẫn ồn ào. Khói thuốc lá quện với mùi cà phê cháy khét và mùi rượu đế làm không khí đặc quánh. Vài thằng du đãng trẻ ngồi gác chân lên ghế, tóc chải keo bóng lưỡng, miệng ngậm thuốc rê.

Minh con ngồi trong đám đó. Người nó vẫn gầy nhẳng như cây củi khô. Nhưng ánh mắt đã khác trước. Không còn vẻ rụt rè của thằng nhỏ bán bánh mì năm nào nữa. Ánh mắt đó bây giờ lì và tàn nhẫn…

Và rồi, dù đã chuẩn bị tinh thần từ trước, nhưng tới lúc nghe tin thằng Minh bị bắt, bà Đeo vẫn thấy hai chân mình như khuỵu xuống.

Sáng hôm đó ngày 10/10/1961, xóm Chuồng Bò còn mờ đục hơi sương. Mấy người đàn bà đi chợ sớm đứng tụm 5 tụm 3 ngoài đầu xóm xì xào bàn tán:

— Nghe đâu thằng Minh con bà Đeo bị bắt rồi!

— Bị đưa lên Ty Cảnh sát Quốc gia Quận 3 đó!

— Tội cướp giựt…

Cái rổ bánh mì trên tay bà Đeo rơi “bịch” xuống nền đất. Mấy ổ bánh lăn lóc dính bùn. Bà Đeo đứng chết trân giữa con đường. Gương mặt bà tái mét, môi run run như muốn nói gì đó nhưng không thành tiếng.

Ngoài đường Quang Trung, xe lam vẫn chạy phành phạch. Người ta vẫn mua bán. Sài Gòn vẫn quay theo cái nhịp sống lạnh lùng của nó. Chỉ có bà Đeo thấy trời đất như tối sầm lại.

Từ xóm Chuồng Bò lên Quận 3 là cả một quãng đường quá xa đối với bà Đeo. Bà phải đi bộ một đoạn dài mới đón được xe lam để tới ngã ba Chú Ía. Từ đó bà đón chuyến xe tiếp để tới Ty Cảnh sát thăm con.

Bộ bà ba cũ nhàu nhĩ dính bụi đường. Hai bàn tay bà cứ xoắn chặt vô nhau suốt quãng đường đi. Chiếc xe lam cà tàng rung bần bật chạy qua từng con đường đông nghẹt người. Bà Đeo ngồi co ro ở góc xe, mắt nhìn ra ngoài mà lòng rối như tơ vò.

Người nghèo ở Sài Gòn thời đó sợ nhất ba thứ. Một là bệnh. Hai là nợ. Ba là đụng cảnh sát… Dính vô một trong ba thứ đó… coi như đời xuống dốc.

Ty cảnh sát Quốc gia Quận 3 nằm im lìm dưới cái nắng oi bức cuối năm 1961. Nó nằm gần Ngã Sáu Sài Gòn, ngay góc ngã tư giao giữa đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám) và đường Nguyễn Thượng Hiền.

Khu vực Ty cảnh sát có tường màu vàng. Hàng rào sắt sơn đen sì sì . Vài người cảnh sát mặc sắc phục đi qua đi lại trước sân. Bà Đeo đứng ngoài cổng rất lâu mới dám bước vô. Giọng bà nhỏ xíu:

— Dạ… cho tui thăm con…

Người cảnh sát ngước lên nhìn người đàn bà gầy gò trước mặt rồi hỏi cụt ngủn:

— Tên gì?

— Ơ… Lê Văn Minh…

- Tội gì?

Ông ta lật sổ xem một hồi rồi hất hàm:

— Ngồi chờ.

Bà Đeo ngồi xuống chiếc ghế gỗ dài ngoằng ngoài hành lang. Mồ hôi chảy dọc hai bên má. Tiếng khóa sắt va nhau “leng keng” phía trong vọng ra. Một lúc sau, Minh con được dẫn ra. Lúc này nó chỉ 14 tuổi.

Bà Đeo chồm tới nắm tay nó qua song sắt. Nhưng nó đứng im, chỉ ló mắt nhìn má nó một chập. Ánh mắt không còn vẻ ngang tàng như lúc tụ tập ngoài đường nữa, nhưng cũng không có vẻ gì sợ hãi.

Lúc sau nó mới nói chậm rãi:

— Không cần bà phải lo… chuyện tui làm tôi chịu.

Bà Đeo òa khóc. Tiếng khóc của người đàn bà tội nghiệp vang giữa căn phòng thăm nuôi chật hẹp nghe não ruột. Nó quay vô mà không nói lời nào thêm…

***

Sau đó, tòa xử Minh con 1 tháng tù giam vì tội cướp giựt. Một tháng tù không dài, nhưng đủ để thằng nhóc 14 tuổi bước hẳn qua một phía khác của cuộc đời.

Vùng Gò Vấp thời đó vẫn còn là vùng ven của Sài Gòn. Ban ngày nhìn thì bình thường, nhưng khi trời vừa sụp tối, bộ mặt khác của nó mới bắt đầu hiện ra.

Những con đường đất đỏ ngoằn ngoèo chạy xuyên qua các bãi cỏ hoang. Xa xa là mấy căn nhà lá nằm lụp xụp cạnh ao rau muống và những chuồng bò hôi nồng mùi phân.

Đêm xuống, ánh đèn dầu leo lét hắt ra từ mấy quán cà phê cóc, quán rượu đế, sòng bài lụp xụp dựng tạm bằng ván ép và tôn cũ. Khói thuốc lá quyện với mùi mồ hôi, mùi rượu và tiếng chửi thề của dân tứ xứ. Âm thanh đó tạo thành thứ không khí đặc trưng, rất riêng của vùng ngoại ô nghèo.

Người lương thiện ít ai dám đi một mình ban đêm. Bởi chỉ cần quẹo lộn vô một con hẻm tối hay con đường vắng… là có thể mất sạch tiền bạc, đồng hồ, thậm chí mất luôn cả mạng. Nhất là khu vực ngã ba Chú Ía, ngã năm Chuồng Chó rồi kéo dài tới xóm Cháy. Mấy địa danh nghe thôi đã thấy dữ dằn.

Ở đó, đĩ điếm ngồi lóc ngóc mấy quán nước tối om. Đám du đãng tóc chải keo bóng lưỡng tụ tập hút chích ma tuý, đánh bài, uống rượu từ chiều tới khuya.

Có bữa cảnh sát đi tuần bố. Còi hụ vang lên inh ỏi giữa đêm. Đám bụi đời nhảy rào, lủi vô các bãi cỏ, ao rau muống hay chui luôn xuống mương đen ngòm để trốn. Nhưng vài hôm sau… đâu lại vô đó.

Đối với người dân lương thiện thì đó là địa bàn bất an, nhưng với bọn tội phạm thì là địa bàn hoạt động lý tưởng…

Rồi Minh con ra khỏi tù cũng chọn khu vực này để trở về. Một cậu bé bán bánh mì hiền lành ngày xưa, bây giờ đã trở thành một tên ma cô lỳ lợm, lọc lõi ở tuổi thiếu niên.

Đêm đó, trời Gò Vấp oi bức lạ thường. Mấy quán cà phê cóc gần ngã ba Chú Ía bắt đầu lên đèn. Tiếng nhạc từ chiếc máy Cassette rè rè vọng ra ngoài đường. Khói thuốc lá quyện với mùi bia rượu và nước hoa rẻ tiền tạo thành thứ không khí nửa phóng đãng, nửa bệ rạc của vùng ven Sài Gòn.

Minh con ngồi ở góc quán, chân gác lên băng ghế gỗ, mắt láo liên nhìn người qua lại. Lúc này, nó đã quen mặt hết đám làng chơi lui tới khu vực đó. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, cách đi đứng là biết ai có tiền, ai xài sang, ai sẽ là con mồi.

Một chiếc xe lam thắng “két” trước quán. Từ trên xe bước xuống là một người đàn ông trạc ngoài bốn mươi. Người mập mạp. Áo sơ mi kẻ sọc bỏ trong quần tây, cổ tay đeo đồng hồ vàng sáng loáng. Vừa bước xuống đã nghe mùi rượu phả ra nồng nặc.

Ông ta đứng nhìn quanh quất, giọng lè nhè:

— Chỗ này… có em út hông?

Minh con đứng dậy bước tới, cười thảo mai:

— Có chớ ông anh. Đêm hay tàu bay?

Người đàn ông nhìn nó rồi móc thuốc châm lửa:

— Dẫn tao đi.

Con hẻm phía sau chợ tối om. Nước cống đọng hai bên bốc mùi hôi ngai ngái. Xa xa, tiếng nhạc vàng từ quán rượu vọng lại nghe não nề. Minh con dẫn người đàn ông tới một căn nhà lá thấp lè tè nằm cuối hẻm.

Trong nhà, ánh đèn dầu vàng đục hắt lên gương mặt một cô gái còn khá trẻ. Môi tô son đỏ lòm. Áo sườn xám bó sát người. Cô ta ngồi bắt chéo chân trên bộ ván, tay phe phẩy quạt giấy.

Thấy Minh con bước vô, cô gái liếc mắt rất nhanh. Một cái liếc đủ hiểu ý nhau. Ở cái vùng bụi bặm này, nhiều chuyện không cần nói thành lời. Người đàn ông vừa bước vô nhà đã cười hềnh hệch:

— Được đó nghen…

Cô gái cười ngọt như mía lùi:

— Ông anh ngồi xuống chơi…

Minh con lặng lẽ lui ra, nhưng không đi xa. Nó đứng nép sau vách tôn nghe động tĩnh. Bên trong, tiếng cười nói, tiếng ly chạm nhau lách cách. Một lúc sau, cô gái hé cửa nhìn ra, khẽ gật đầu.

Minh hiểu ý, bèn ngoắc 1 thằng bặm trợn bước vô trong. Thằng này la toáng lên: “Mày dụ dỗ vợ tao hả! Tao đánh cho mày chết!...”. Chỉ chờ có thế, Minh con liền hùa vô, nhanh chóng quật ngã người đàn ông xuống bộ ván.

Ông ta vùng vẫy, nhưng men rượu làm chân tay mềm nhũn. Rồi cả đám lục sạch túi quần, túi áo. Đồng hồ, nhẫn, tiền bạc… cái gì đáng giá đều bị lột sạch.

***

Đi đêm hoài cũng có ngày gặp ma. Và Lê Văn Minh bắt đầu trả giá.

Rồi một đêm trời lại đổ mưa. Mưa bay lất phất trên những mái tôn cũ kỹ của xóm Chuồng Bò. Ngoài đường Quang Trung, ánh đèn xe lam quét ngang những vũng nước đọng loang lổ.

Minh con vừa từ một sòng bài nhỏ gần ngã năm Chuồng Chó bước ra. Trong túi nó có ít tiền vừa kiếm được do mấy trò nhóc dẫn mối chia. Không nhiều, nhưng đủ để nó cùng đám bụi đời ăn nhậu vài bữa.

Nó vừa châm điếu thuốc thì phía sau bỗng vang lên tiếng quát:

— Đứng yên!

Minh con giật mình quay lại. Hai bóng cảnh sát mặc thường phục đã lao tới. Theo phản xạ, nó quay đầu bỏ chạy. Con đường đất sau chợ tối om. Nước bắn tung tóe dưới chân. Tiếng người rượt phía sau càng lúc càng gần.

— Bắt nó!

Minh con nhảy qua một mương nước đen ngòm rồi luồn vô con hẻm nhỏ quen thuộc của xóm Cháy. Nhưng lần này vận may không còn đứng về phía nó nữa. Vừa quẹo qua góc hẻm, một cú đạp mạnh từ phía hông làm nó té chúi xuống bùn.

Hai người đàn ông đè nghiến nó xuống đất. Một cái tát nảy lửa giáng xuống mặt. Mùi bùn đất, mùi máu tanh và mùi mồ hôi trộn lẫn trong đêm lạnh.

Rồi ngày 11 tháng 11 năm 1962, Lê Văn Minh bị đưa ra xét xử. Phiên tòa diễn ra chóng vánh như cách người ta xử lý hàng trăm thằng bụi đời khác ngoài thành phố này.

Một tháng tù. Nhưng lần này khác trước. Nó không bị nhốt ở khám thường nữa… mà bị đưa vô Trung tâm Cải huấn Thủ Đức.

Chiếc xe bít bùng chở đám thanh thiếu niên phạm pháp lăn bánh rời trung tâm Sài Gòn từ sáng sớm. Qua khung cửa sắt nhỏ xíu, Minh con nhìn thành phố trôi dần phía sau. Những con đường đông nghẹt xe cộ.

Xe càng chạy xa, cảnh vật càng hoang vắng. Gió thổi hun hút qua những bãi đất trống vùng Thủ Đức. Trung tâm Cải huấn hiện ra sau hàng rào kẽm gai và bức tường xám lạnh. Không khí ở đó nặng nề tới khó thở. Mấy thằng nhỏ mới vô trại đứa nào cũng xanh mặt, nhưng Minh con thì không.

Huỳnh Minh Đức

BÌNH LUẬN & CHIA SẺ

Đang tải bình luận,....

Đọc thêm

Thứ 5 | 24/08/2017 | Lượt xem: 3854 | Tác giả: Admin1

Tại cuộc họp báo sau trận thua U-22 Thái Lan 0-3 ở bảng B môn bóng đá nam SEA Games 29 chiều 24-8, HLV đội U-22 VN Nguyễn Hữu Thắng đã tuyên bố từ chức. 

Tại cuộc họp báo sau trận thua U-22 Thái Lan 0-3 ở bảng B...

Thứ 4 | 04/03/2026 | Lượt xem: 1407 | Tác giả: admin

Gần ba tháng trời, Lâm Huê Hồ đi khắp các ngả đường Sài Gòn – Chợ Lớn. Từ Cát Lái, Thủ Đức, Gò Vấp cho tới những doanh trại đóng rải rác quanh thành phố. Y không vội hỏi mua hàng. Y hỏi thủ tục. Hỏi quy trình. Hỏi ai ký, ai duyệt, ai đóng dấu, ai kiểm soát việc vận chuyển...

Gần ba tháng trời, Lâm Huê Hồ đi khắp các ngả...

Thứ 5 | 17/10/2019 | Lượt xem: 2878 | Tác giả: banbientap1

Vì sao Gia Cát Lượng vẫn quyết tâm tiến quân không chỉ một mà đến tận sáu lần khi ông đã sớm hiểu rằng chiến dịch đánh Ngụy khó thành?

Vì sao Gia Cát Lượng vẫn quyết tâm tiến quân...

Thứ 3 | 11/11/2025 | Lượt xem: 1019 | Tác giả: admin

Trong cuộc đời này, có những con người sinh ra như để trải qua những điều phi thường — họ đi, ngã, đứng dậy, lại đi, như ngọn sóng không chịu yên trên mặt biển số phận.

Trong cuộc đời này, có những con người sinh ra như để trải...

Thứ 2 | 07/10/2019 | Lượt xem: 3058 | Tác giả: banbientap

Đâu đất Tam Hoa đâu Phố Khách  

Đâu đất Tam Hoa đâu Phố Khách  

Thứ 3 | 12/09/2017 | Lượt xem: 2510 | Tác giả: admin

Sớm phát hiện năng khiếu diễn xuất, cô gái sinh năm 1992 Nguyễn Thị Thủy Tiên (SBD 217) đã tham gia các hoạt động văn nghệ của trường ngay khi còn là một cô bé trung học.

Sớm phát hiện năng khiếu diễn xuất, cô gái sinh năm...

Thứ 3 | 24/09/2019 | Lượt xem: 2466 | Tác giả: banbientap

Theo Báo Người Lao Động đăng ngày 21/9/2019: Ít có nhà văn nữ nào như Bích Ngân, cùng một lúc phát hành cả 3 tập sách. Ta thấy chị là cây bút đa năng, đa tài, có thể sử dụng thành thục nhiều thể loại.

Theo Báo Người Lao Động đăng ngày 21/9/2019: Ít...

Thứ 6 | 27/02/2026 | Lượt xem: 2268 | Tác giả: admin

Giữa cái ồn ào ấy, có một người đàn ông trung niên đầu húi cua sát da, mái tóc cắt ngắn đến mức gần như trơ da đầu. Khuôn mặt y gầy gò, khắc khổ, hai gò má nhô cao. Đôi mắt y lúc nào cũng chau lại như kẻ đang lo chạy gạo từng bữa. Y là Lâm Huê Hồ.

Giữa cái ồn ào ấy, có một người đàn ông...

Thứ 3 | 18/11/2025 | Lượt xem: 1344 | Tác giả: admin

Trong lịch sử của những đô thị phồn hoa pha lẫn mục ruỗng, bao giờ cũng tồn tại những con người kỳ dị – những kẻ lớn lên từ bóng tối, trưởng thành bằng máu và trở thành huyền thoại bằng những lời đồn dai dẳng đến mức vượt cả cái chết - Đại Cathay là một trong những cái tên ấy.

Trong lịch sử của những đô thị phồn hoa pha lẫn mục ruỗng, bao giờ...

Chủ nhật | 18/01/2026 | Lượt xem: 5108 | Tác giả: admin

Trời vẫn còn âm u. Mây thấp, nặng trĩu, như ép sát xuống mái nhà. Đường phố quanh Dinh Độc Lập đã vắng tanh. Những hàng me im lìm, lá còn đọng nước mưa từ đêm trước. Không khí căng cứng đến mức người ta có thể nghe rõ cả tiếng kim đồng hồ trong các phòng gác.

Trời vẫn còn âm u. Mây thấp, nặng trĩu, như ép...