Thằng nhỏ đó tên là Kalon Theo. Tên tiếng Việt là Minh - Lê Văn Minh. Minh sinh năm 1947. Con trai đầu lòng của ông Kalon Rim – một chuẩn úy lính chế độ cũ gốc Campuchia. Người lúc nào cũng mặc bộ đồ lính bạc màu, mặt thì lúc nào cũng hầm hầm vì lo cơm áo.
LỜI NÓI ĐẦU
Trong “Bảng phong thần” của giang hồ Sài Gòn một thời nhiễu nhương trước năm 1975, cái tên Điềm Khắc Kim đứng ngang hàng với những hung thần lề phố như Đại Cathay, Sơn Đảo, Lâm Chín ngón, Y Cà lết… Nhưng khác với tất cả, hắn không phải là một đại ca theo lối thông thường.

Không băng nhóm, không lãnh địa, không thanh trừng đẫm máu để tranh giành quyền lực. Hắn tồn tại như một ngoại lệ – một “tướng cướp không quân”, đơn độc giữa thế giới giang hồ vốn đầy rẫy luật lệ ngầm.
Từ năm 1967, Sài Gòn bắt đầu rúng động bởi hàng loạt vụ đột nhập táo bạo vô những biệt thự kiên cố của người Mỹ và giới giàu có. Những căn nhà kín cổng cao tường, những nơi có chó dữ canh giữ, tưởng chừng bất khả xâm phạm, vẫn bị xuyên thủng bởi một cái bóng bí ẩn mang tên Điềm Khắc Kim.
Hắn không chỉ cướp với giá trị tài sản khổng lồ mà còn để lại dấu ấn lạnh lẽo. Ba chữ “ĐKK” như một lời thách thức công khai…
Hành tung của hắn luôn là một ẩn số. Hắn đơn thương độc mã, không đồng bọn. Hắn ra vào như bóng ma, biến mất không dấu vết. Khi bị truy đuổi, hắn sẵn sàng nổ súng chống trả, thoát thân trong thế bị bao vây, khiến lực lượng cảnh sát và quân đội thời đó nhiều phen bất lực.
Tên cướp nhỏ con ấy đã gieo rắc nỗi kinh hoàng không chỉ cho các gia đình giàu có hay người Mỹ, mà còn lan rộng tới từng góc phố, từng quán cà phê, từng chuyến xe lam của một Sài Gòn đầy bất an.
Tên tuổi Điềm Khắc Kim nhanh chóng trở thành đề tài nóng bỏng trên mặt báo và trong mọi câu chuyện đầu đường cuối chợ. Nhưng trớ trêu thay, chính báo chí lại vô tình làm sai lệch cái tên của hắn thành “Điền Khắc Kim”. Chỉ có hồ sơ của cảnh sát mới lưu giữ đúng danh tính thật.
Vì vậy, trong câu chuyện này, xin được trả lại đúng tên gọi của một bóng ma giang hồ. Điềm Khắc Kim – một tướng cướp không giống bất kỳ ai, một con người bước ra từ bi kịch để rồi đi đến tận cùng của tội ác và số phận.
CHƯƠNG 1: TỪ ĐỨA BÁN BÁNH MÌ…
Đêm Sài Gòn năm 1959 nóng hầm hập. Gió từ phía sân bay Tân Sơn Nhứt thổi qua những dãy nhà lụp xụp của xóm Chuồng Bò Hạnh Thông Tây chỉ làm mùi rác, mùi cống, mùi mồ hôi người thêm nồng nặc.
Ánh đèn vàng leo lét treo trước mấy căn nhà vá víu bằng tôn và ván ép. Chúng hắt xuống con hẻm lầy lội như một vết sẹo dài ngoằn ngoèo, giữa vùng đất ngoại ô nghèo nàn, xơ xát.
Ở đầu hẻm, một thằng nhỏ đứng lom khom. Người nó gầy nhom, đen đúa, hai mắt sáng quắc trong bóng tối. Cái giỏ cần xé đeo trước bụng đã trống không, chỉ còn vài mẩu giấy báo dính mỡ. Nó đưa tay quệt ngang mũi, thở khì một cái rồi lẩm bẩm:
— Bán hết rồi… mà vẫn chưa được nghỉ!
Nó quay đầu nhìn về phía căn nhà tôn ọp ẹp cuối hẻm. Trong đó, tiếng trẻ con khóc ré, tiếng phụ nữ la lối và tiếng chén bát va nhau lách cách, hòa thành một thứ âm thanh quen thuộc của cái nghèo.
Nó đứng im một hồi rồi quay đi. Không vô nhà.
Ở xóm Chuồng Bò Hạnh Thông Tây hồi đó là chỗ mà dân Sài Gòn tử tế ít ai dám bén mảng tới. Người tứ xứ dạt về. Kẻ làm thuê. Người chạy chợ. Lính tráng, dân bụi đời… chen chúc nhau sống trong những căn nhà tạm bợ, phức tạp. Ở đó, người ta sống không phải để mơ, mà để… ráng qua ngày.
Thằng nhỏ đó tên là Kalon Theo. Tên tiếng Việt là Minh - Lê Văn Minh. Minh sinh năm 1947. Con trai đầu lòng của ông Kalon Rim – một chuẩn úy lính chế độ cũ gốc Campuchia. Người lúc nào cũng mặc bộ đồ lính bạc màu, mặt thì lúc nào cũng hầm hầm vì lo cơm áo.
Má nó – bà Lê Thị Đeo – một người đàn bà không chữ nghĩa, quanh năm đầu tắt mặt tối lo chạy cơm từng bữa cho gia đình. Sau Minh còn… mười hai đứa em nữa. Trai có. Gái có. Đứa nào cũng nhỏ xíu, đen nhẻm, mắt lèm nhèm vì đói.
Cái nhà tôn ọp ẹp đó ban ngày đã chật, ban đêm càng như cái hộp kín mít, nhồi nhét mười mấy con người chen chúc nhau nằm. Đứa này gác chân lên đứa kia. Chúng quay ngang quay dọc tứ bề.
Nóng quá thì thức, mệt quá thì ngủ thiếp. Đêm nào cũng vậy. Không có đêm nào yên….
Ông Kalon Rim đi lính miết. Hết đồn này tới trại kia. Hết hành quân rồi lại trực gác. Cái thân lính quèn kéo dài từ thời còn trai tráng tới lúc tóc bắt đầu điểm bạc mới leo được tới chuẩn úy. Nhưng trong giới lính, người ta gọi đó là… “đụng la-phông”.
Nghĩa là hết đường mà lên, hết chỗ mà nhích.
***
Một buổi chiều, ông Rim về nhà. Bộ đồ lính bạc màu, cổ áo sờn, giày dính đầy đất đỏ. Ông tháo cái nón sắt quăng lên bàn, rồi ngồi phịch xuống cái ghế gỗ lung lay. Bà Đeo đang nhóm bếp, không quay lại, hỏi:
— Lãnh lương chưa?
Ông im một lúc rồi móc túi, rút ra xấp tiền mỏng dính, quăng lên bàn:
— Đây.
Bà Đeo liếc qua không đếm, xỉa xói:
— Nhiêu đây… nuôi nổi cái nhà này hả?
Ông Rim cau mặt:
— Tao biết sao giờ? Lính mà! Muốn nhiều cũng đâu được!
— Vậy thì đẻ chi cho dữ vậy? - Câu nói tuột ra của bà Đeo tuy không to, nhưng đủ nặng.
Ông Rim đập bàn cái “rầm”:
— Bà nói cái gì?
Mấy đứa nhỏ giật mình khóc ré. Không khí trong nhà đặc lại. Minh đứng ở góc ló mắt nhìn. Nó không xen vô bởi đã quen rồi.
Tiền lương của ông Rim không đủ… không bao giờ đủ. Gạo phải mua thiếu. Nước mắm phải đong từng chén nhỏ. Thịt thì hiếm khi thấy. Có bữa cả nhà ăn cơm với muối. Rồi cả nhà ăn cháo loãng, mỗi đứa một tô húp xong mà bụng vẫn còn đói.
Tuổi thơ của Lê Văn Minh không có gì để gọi là êm đềm. Nó lớn lên dưới một mái nhà rách nát tới mức… gió muốn vô là vô, mưa muốn tạt là tạt. Mái nhà lợp bằng mấy tấm tôn cũ nhặt đâu đó, chỗ thì rỉ sét, chỗ thì thủng lỗ chỗ.
Ban ngày, ánh nắng rọi xuyên qua từng lỗ nhỏ, đâm xuống nền nhà loang lổ như tổ ong. Ban đêm, gió lùa qua nghe rin rít như tiếng ai thở dài. Vách nhà không phải vách. Chỉ là thứ chắp vá của đủ thứ trên đời.
Ván ép thì cong queo, mảnh bìa carton thì mềm nhũn, vỏ thùng phuy thì móp méo. Rồi mấy miếng tôn, miếng thiếc đầu thừa đuôi thẹo đóng chằng chịt lại với nhau như sơ mướp.
Mùa nắng cái mái tôn hấp nhiệt, nóng hầm hập như cái lò. Ở trong nhà không khí đặc quánh. Thở cũng thấy mệt. Mồ hôi chảy ra, không kịp khô đã dính ngược vô người.
Mấy đứa nhỏ nằm lăn lóc, cầm miếng carton quạt phành phạch, la oai oái:
— Nóng quá…
Mùa mưa căn nhà biến thành một cái… rổ. Nước từ trên mái nhỏ xuống từng giọt, rồi từng dòng. Chỗ nào cũng dột. Chỗ nào cũng ướt.
Bà Đeo chạy tới chạy lui, lấy thau, lấy nồi hứng nước. Nhưng hứng chỗ này thì chỗ kia dột. Cứ như mưa nó rượt người.
Nhưng khổ nhất là cái nền. Nhà thấp nên mỗi lần mưa lớn, nước ngoài hẻm theo đường rãnh đục ngầu kéo vô. Rác, lá cây, đất cát… trôi lềnh bềnh, ồng ộc tràn vô nhà như nước lũ. Mấy anh em nó tha hồ gọi nhau lội tứ tung tát nước.
***
Gia cảnh đã nghèo, đông con lại càng nghèo thêm. Đồng lương “chuẩn úy già” của ông Kalon Rim mỗi tháng lãnh về chỉ đủ để gọi là… có. Nó không đủ nuôi một gia đình mười mấy miệng ăn, càng không đủ để vá víu những thiếu thốn cứ ngày một lớn dần theo đám con nít trong nhà.

Mọi chi tiêu, to nhỏ, nặng nhẹ… dồn hết lên vai bà Đeo. Một người đàn bà không nghề nghiệp, quanh năm chỉ biết xoay xở bằng những việc lặt vặt, chắp vá như chính căn nhà của mình.
Hôm nay bán bánh mì, ngày mai phụ gánh hàng. Có khi đi vay, có khi đi năn nỉ… nhưng tiền làm ra lúc nào cũng như nước chảy qua tay.
Giữa cái vòng quay chật vật đó, Lê Văn Minh không có tuổi thơ, không có lựa chọn. Một thằng nhỏ gầy gò trong bộ quần áo bạc màu, vừa đi học vừa đi bán bánh mì dạo kiếm thêm tiền phụ giúp má, nuôi 12 đứa em lít nhít như bầy chuột.
Sáng nào cũng vậy. Khi trời còn chưa kịp sáng hẳn, trong xóm Chuồng Bò vẫn còn mờ mịt hơi sương, thằng nhỏ Minh đã bị kéo dậy khỏi cái chiếu rách.
Người nó còn dính mùi mồ hôi của đêm hôm trước, mắt thì đầy ghèn chưa kịp rửa. Nó lồm cồm ngồi dậy, tay quơ quào tìm cái áo, chưa tỉnh hẳn đã bị giục:
— Lẹ lên, ra lò lấy bánh! Trễ là hết!
Ngoài hẻm, đất còn ướt lạnh. Minh xách cái giỏ cần xé chân trần bước đi. Dáng nó nhỏ thó lọt thỏm giữa con đường lổn nhổn đất đá.
Ở lò bánh, hơi nóng phả ra nghi ngút. Những mẻ bánh đầu tiên vừa ra lò, vàng ruộm, thơm phức để bán bánh mì “chạy”. Tiếng rao vang lên giữa buổi sớm Sài Gòn còn ngái ngủ. Lẫn trong tiếng xe lam, tiếng người bán hàng, tiếng gọi nhau í ới ngoài chợ.
Nó phải đi nhanh. Đi cho hết. Đi cho sạch giỏ.
Tới khoảng 8 giờ cái giỏ cần xé trống trơn. Nhưng Minh không được nghỉ. Nó quẳng vội cái giỏ xuống chạy về nhà. Ở nhà, bà Đeo đã bày sẵn cái bàn nhỏ trước cửa. Nó phụ bán bánh mì “nằm”.
Tuổi thơ vất vả và thiếu thốn nên Minh không lớn nổi. Người cứ loắt choắt, gầy và đem nhẻm. Nhìn nó có phần nhút nhát vì mặc cảm. Việc học hành của nó vì thế cũng chẳng bằng ai, chữ vào tai này lại ra tai kia rồi rớt mất.

Hội Tam Hoàng Sài Gòn - Chợ Lớn (Kỳ 4)
Doanh nhân Lưu Ngọc Long Thanh - người phụ nữ quyền lực của Vietbamboo và dự án mở hãng hàng không tại Việt Nam
Hội Tam Hoàng Sài Gòn - Chợ Lớn (Kỳ 5)
Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty cổ phần Golden Dragon Corporate quý phái,sang trọng tại lễ ký kết xây dựng dự án bệnh viện
Kiều Nguyễn Phương Duy - Chàng trai nhẹ nhàng nhưng sâu lắng
Lễ công bố Quyết định và trao Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng cấp cơ sở giáo dục
Hội Tam Hoàng Sài Gòn - Chợ Lớn (Kỳ 9)
Doanh nhân hát hội tụ dàn thí sinh đầy tiềm năng
“Nàng tiên cá” đến vương quốc Thái Lan
Câu lạc bộ Doanh nhân Bạc Liêu – Cà Mau tại Thành Phố Hồ Chí Minh họp mặt ‘Cà phê Đồng hương’ lần 2