Giữa cái ồn ào ấy, có một người đàn ông trung niên đầu húi cua sát da, mái tóc cắt ngắn đến mức gần như trơ da đầu. Khuôn mặt y gầy gò, khắc khổ, hai gò má nhô cao. Đôi mắt y lúc nào cũng chau lại như kẻ đang lo chạy gạo từng bữa. Y là Lâm Huê Hồ.
LỜI MỞ ĐẦU
Ở Chợ Lớn trước năm 1975, người ta truyền nhau một câu nói nửa đùa nửa thật: “Trần Thành, Lý Long Thân có tiếng, Lâm Huê Hồ có miếng”.

“Miếng” ở đây không phải là một miếng đất, một miếng hàng, hay một phần thầu béo bở. Đó là miếng tiền, thứ tiền không phô trương, không bảng hiệu, không két sắt đặt giữa đại sảnh, nhưng đủ sức khiến cả những ông vua vải sợi, vua kẽm gai, vua xăng dầu… phải gõ cửa.
Nếu gặp Lâm Huê Hồ ngoài đường, ít ai nghĩ ông ta là đại tỉ phú. Đầu thì húi cua, khuôn mặt gầy gò, đôi mắt lúc nào cũng như đang tính nhẩm điều gì đó chưa xong.
Bộ đồ vải sẫm màu bạc thếch, dáng đi chậm rãi, hơi khom lưng. Trông ông giống một người thu mua ve chai hơn là một ông trùm tài chính. Nhưng phía sau vẻ bần tướng ấy là một quyền lực âm thầm.
Không cần sở hữu ngân hàng, Lâm Huê Hồ vẫn được gọi là “vua ngân hàng”. Không cần ngồi ghế nghị sĩ, ông vẫn có thể khiến những ông nghị phải nể. Tiền của giới làm ăn Hoa kiều chảy qua tay ông như nước qua mương. Vô đó rồi tỏa đi khắp nơi, sinh sôi, quay vòng, rồi lại trở về.
Từ hai bàn tay trắng của một kẻ tha hương Phúc Kiến, Lâm Huê Hồ từng bước dựng nên một đế chế phế liệu và tín dụng bao trùm Chợ Lớn. Và cũng chính từ đống vàng giấu trong những mảnh giẻ rách, huyền thoại ấy khép lại.
Câu chuyện về Lâm Huê Hồ “vua ngân hàng không có ngân hàng” bắt đầu từ đây.
Truyện ký
Lâm Huê Hồ: Vua phế liệu - tín dụng Chợ Lớn
Buổi sáng Chợ Lớn năm 1948, sương còn lảng vảng trên những mái ngói cũ. Những con đường lát đá còn ướt sương, ánh sáng buổi sớm chiếu xiên qua hàng hiên gỗ cũ, in bóng những mái ngói rêu phong đã sứt mẻ vì thời gian. Trên cao, dây điện chằng chịt như mạng nhện, treo lủng lẳng những bóng đèn tròn đục màu vừa mới tắt.

Từ tinh mơ, Chợ Lớn đã ồn ào. Tiếng xe lam cà tàng nổ giòn giã, khói xám phụt ra sau đuôi xe, hòa vào mùi sương và mùi dầu máy. Tiếng kéo cửa sắt, tiếng quét sân, tiếng lạch cạch của những sạp hàng dựng vội.
Người Hoa nói chuyện với nhau bằng đủ thứ giọng: Quảng Đông trầm đục, Tiều Châu lanh lảnh, Phúc Kiến nặng và gằn. Những câu trả giá qua lại, nghe như tiếng gõ nhịp quen thuộc của con đường này.
Ở góc đường Khổng Tử, mùi cà phê vỉa hè bốc lên thơm gắt, pha lẫn mùi thuốc bắc từ những tiệm lâu đời. Nhân sâm, linh chi, quế chi, cam thảo… phơi trong những khay gỗ cũ, tỏa ra thứ mùi ngai ngái rất riêng, chỉ Chợ Lớn mới có.
Mùi đó quyện với mùi cá khô, mùi mắm, mùi giấy dầu bọc hàng, tạo thành một thứ không khí nồng nặc nhưng quen thuộc. Dòng người qua lại hối hả. Người buôn gánh hàng, kẻ đẩy xe, lính tráng đi tuần, dân bốc vác vai trần lấm mồ hôi.
Ai cũng đi nhanh, nói nhanh, sống nhanh. Chiến tranh ngoài kia còn xa nhưng cái nghèo thì sát bên. Ở Chợ Lớn, không ai hỏi nhau ngày mai ra sao. Người ta chỉ lo hôm nay có bán được hàng, có đủ tiền mua gạo, trả tiền nhà hay không.
Những tiệm buôn lớn với bảng hiệu chữ Hán sơn son thếp vàng đứng chen sát bên các căn nhà gỗ xập xệ. Trước cửa tiệm sang trọng, chủ tiệm áo dài lụa đứng chỉ tay sai khiến.
Ngay kế đó, một gia đình nghèo trải chiếu bán vài món lặt vặt, con nít ngồi co ro nép sát vách tường. Giàu và nghèo ở Chợ Lớn đứng sát nhau đến mức chỉ cách nhau một bước chân.
Giữa cái ồn ào ấy, có một người đàn ông trung niên đầu húi cua sát da, mái tóc cắt ngắn đến mức gần như trơ da đầu. Khuôn mặt y gầy gò, khắc khổ, hai gò má nhô cao. Đôi mắt y lúc nào cũng chau lại như kẻ đang lo chạy gạo từng bữa. Y là Lâm Huê Hồ.
Nhìn tướng mạo Lâm Huê Hồ chẳng khác nào một anh đạp xích lô đông con vất vả. Sáng chưa kịp ăn đã nghĩ tới tiền thuê nhà buổi chiều.
Y mặc bộ quần áo vải sẫm màu, bạc phếch vì năm tháng. Với chiếc quần hơi xắn lên, rút qua khỏi mắt cá, dép lê mòn sát nhíp như lưỡi lam, y đi giữa đường mà chẳng ai buồn bận tâm. Một bà bán chè đầu hẻm thì thầm với khách hàng của mình:
– Ông đó mua ve chai.
Y đi bộ lang thang giữa chợ, tới cuối đường thì dừng lại. Y đứng tựa lưng vô cột đèn như đang nghĩ việc gì lung lắm. Sau đó y bước vô quán cà phê, kéo ghế ngồi xuống. Một tay ăn mặc bảnh bao, liếc y rồi cười khẽ:
– Dân ve chai mà cũng hẹn khách ở tiệm cà phê à?
Người ngồi cùng bàn với anh ta chỉ khẽ nhún vai:
– Nị đừng nhìn bề ngoài. Ở Chợ Lớn này, có người mặc lụa mà túi trống rỗng đó.
***
Thị trấn Chin Can còn được kêu là Thạch Kinh, nằm ở phía Nam thành phố cấp huyện Nam An thuộc thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến. Đây là thị trấn ven biển ở phía Tây Vịnh Anhai, hướng ra eo biển Đài Loan. Đây cũng là một phần của khu vực văn hoá Mân Nam Trung Quốc.
Những năm đầu thập niên 1920, Thạch Kinh là một vùng đất nghèo xác xơ. Đầm lầy ngập mặn vây quanh làng, ruộng ít, đất xấu. Mùa mưa thì bùn ngập tới mắt cá, mùa nắng thì đất nứt nẻ như da người già. Gió biển thổi vào mang theo mùi mặn và cái lạnh len lỏi tận xương.
Lâm Huê Hồ sinh năm 1923, trong một căn nhà vách đất lợp ngói âm dương đã sứt mẻ. Cha là Lâm Sa, mẹ là Pho Thị. Tuổi thơ của Lâm gắn với những bữa cơm độn khoai, độn bắp.
Có những tối, Lâm nằm nghe cha mẹ nói chuyện khe khẽ bên bếp lửa tàn.
– Ở đây hoài chắc chết đói…
– Biết làm sao giờ…
Những câu nói đó cứ lặp đi lặp lại như tiếng gió thổi qua mái nhà rách. Lâm lớn lên cùng cảm giác cái nghèo không chỉ là thiếu ăn, mà là một cái vòng siết chặt cổ của chế độ mới, không cho ngẩng đầu.
Khi mới 20 tuổi, Lâm rời Thạch Kinh vì nhận ra việc nghèo đói không phải do làm biếng mà do chế độ Mao Trạch Đông kèm hãm phát triển. Không ai tiễn, không ai để từ biệt. Chỉ có một gói vải cũ, vài đồng bạc lẻ và lời dặn ngắn ngủi của mẹ:
– Nị qua bển ráng sống cho đàng hoàng nghen.
Lâm gật đầu. Y không biết đó là lần cuối cùng nghe giọng mẹ.
Khi cưới vợ, y không biết cha mẹ còn sống hay đã chết để báo tin. Vì tại quê nhà, Mao Trạch Đông đang thực hiện chính sách Thổ Cải rất quyết liệt.
Lúc có chút cơ nghiệp, Lâm từng gửi thư về quê nhưng chẳng ai hồi âm. Không địa chỉ rõ ràng. Không người quen. Quê nhà đã trở thành một vệt mờ xa tắp.
Hơn 20 năm sau ngày rời Phúc Kiến, Lâm Huê Hồ đặt chân tới Chợ Lớn, cũng vẫn với hai bàn tay trắng. Chợ Lớn đông đúc hơn, náo nhiệt hơn, nhưng cái nghèo thì giống nhau ở khắp mọi nơi. Người ta tranh nhau từng chén cơm, từng mối hàng, từng đồng bạc lẻ.

Huỳnh Hương gặp Lâm Huê Hồ trong những ngày ấy. Bà còn khổ hơn. Mồ côi cha mẹ từ sớm, lớn lên nhờ họ hàng, chỉ biết mình dân Tiều Châu, rồi cũng trôi dạt ra Chợ Lớn mưu sinh. Hai con người không gốc rễ, không nơi nương tựa, nhìn nhau rồi thương nhau, chăm sóc cho nhau.
Có một buổi chiều, cả hai ngồi xổm bên mép chợ, trước mặt là chiếc xe gỗ ọp ẹp, vài cái chảo bể và mớ sắt vụn gỉ sét. Huỳnh Hương nhìn đống đồ thở dài:
– Mấy thứ này bán được bao nhiêu đâu…
Lâm Huê Hồ im lặng một lúc, rồi nói chậm rãi, giọng khàn khàn:
– Người ta muốn bán thì mình mua. Người ta muốn mua thì mình bán.
Đó là lập luận giản dị đến mức ai nghe cũng tưởng chuyện thường. Nhưng với Lâm Huê Hồ, nó không chỉ là cách mưu sinh, mà là một cách nhìn đời. Y không tìm thứ hào nhoáng. Y cúi xuống nhặt những gì người khác bỏ qua. Từ ve chai, đồng nát, từ những thứ tưởng chừng vô giá trị, Lâm bắt đầu gom góp từng chút một.
Không ai biết rằng chính từ khởi đầu cơ cực đó, từ cái xe đẩy bằng gỗ lọc cọc giữa Chợ Lớn, một con đường rất dài đã mở ra. Con đường của một người đàn ông đi lên bằng sự nhẫn nại, bằng cái đầu lạnh, và bằng niềm tin rằng mọi thứ đều có thể mua bán, miễn là biết chờ đúng lúc.
Luôn bên cạnh Lâm Huê Hồ là bà Huỳnh Hương. Bà Hương ăn mặc còn giản dị hơn chồng. Áo của bà là thứ vải thô, không mặc lụa là gấm vóc như các xì thẩu khác. Quần sẫm màu, ống lúc nào cũng xắn cao tới gối cho tiện đi đứng. Mái tóc búi vội sau gáy, vài sợi bạc sớm lẫn vào đám tóc đen khô cứng vì nắng gió.
Nếu đứng cạnh nhau giữa chợ Chợ Lớn, người ta dễ lầm họ là một cặp vợ chồng ve chai chính hiệu. Bà xách cái giỏ mây cũ, Lâm Huê Hồ thì đẩy chiếc xe đẩy gỗ lọc cọc. Đi tới đâu, bà Hương cũng cười gật đầu mọi người, giọng nói nhỏ nhẹ, lơ lớ tiếng Tiều:
– Lứ có đồ cũ bán hông? Nồi móp xoang bể úa cũng mua.
Bà chủ tiệm vải nhìn theo, buông câu nửa thương nửa khinh:
– Trời đất! Coi bộ khổ dữ à nghen.
Bà Hương chỉ cười. Còn Lâm thì cúi đầu, mắt vẫn nhìn xuống mặt đường như đang đếm từng viên gạch. Cái dáng lầm lầm lì lì đó theo y suốt cả cuộc đời.
***
Giữa những người mua bán ve chai ở Chợ Lớn, còn có một cái tên khác thường xuyên xuất hiện gần Lâm Huê Hồ. Người đó tên Hứa Sâm. Người này cũng quê Phúc Kiến, sang Chợ Lớn gần như cùng thời với Lâm Huê Hồ.

Tuy tuổi tác xấp xỉ, nhưng tướng mạo thì trái ngược. Họ Hứa người thấp đậm, vai ngang, cổ ngắn. Da nhờn nhợt đặc trưng người miền quê Phúc Kiến, đôi mắt ti hí lúc nào cũng láo liên như đang dò xét quanh mình.
Miệng y hay ngậm điếu thuốc, nói năng cộc lốc, giọng Phúc Kiến pha Quảng Đông nghe lơ lớ, the thé. Nếu Lâm Huê Hồ lúc nào cũng cúi đầu, lầm lì, thì Hứa Sâm lại thích nói lớn, cười hô hố, cố cho người ta biết y đang có tiền.
Hứa Sâm làm ăn khác Lâm Huê Hồ. Gã không chờ người ta bán, mà giành. Gã đi sau những người thu gom nhỏ, hỏi giá rồi sẵn sàng trả cao hơn để hớt tay trên.
Hứa Sâm chỉ trích Lâm Huê Hồ:
– Thằng đó chỉ biết nhặt đồ người ta bỏ. Làm ăn mà rụt cổ giàu sao nổi.
Lâm Huê Hồ nghe nhưng không phản ứng. Y chỉ lặng lẽ chuyển hướng, tìm mối khác hoặc mua thứ mà Hứa Sâm không thèm để ý.
Tháng 4 năm 1949, vào một buổi trưa nắng gắt, cả Chợ Lớn như bị hun lên bởi hơi nóng từ mặt đường đá. Cuối đường Trần Chánh Chiếu, trước một kho phế liệu cũ kỹ, cửa gỗ bong tróc, mùi sắt gỉ và dầu nhớt phả ra nồng nặc, Lâm Huê Hồ và Hứa Sâm cùng đứng chờ.
Bên trong kho, từng đống sắt vụn nằm ngổn ngang. Khung giường gãy, nồi nhôm móp méo, vỏ máy cũ, vài thanh sắt cong queo còn dính bùn đất. Ông chủ kho là người Hoa đã có tuổi, tay cầm cuốn sổ ghi chép, ánh mắt lưỡng lự. Ông ta nhìn Lâm Huê Hồ, rồi quay sang Hứa Sâm, phân vân không biết nên bán cho ai.
Hứa Sâm đứng khoanh tay trước ngực, điếu thuốc ngậm lệch khoé môi, nhả khói phì phèo. Gã liếc đống phế liệu, nhếch môi cười:
– Đống này đó hả?
Ông chủ kho chưa kịp đáp thì Hứa Sâm đã bước lên một bước, rút trong túi ra một xấp tiền, đập “bịch” xuống mặt bàn gỗ:
– Đây. Khỏi trả giá.
Ông chủ kho nhìn xấp tiền đặt trên mặt bàn, đưa mắt sang Lâm Huê Hồ như chờ phản ứng.
Lâm Huê Hồ đứng sau, hai tay đút trong túi quần vải bạc màu, ánh mắt lướt nhanh qua đống hàng rồi dừng lại rất lâu ở mấy thanh sắt gỉ nằm sát góc tường. Y không bước lên. Không móc tiền. Chỉ lắc đầu nhẹ.
Hứa Sâm quay lại, cười nhạt:
– Sao? Không đủ tiền hả?
Lâm Huê Hồ không đáp. Y chỉ gật đầu chào ông chủ kho, rồi quay lưng đi thẳng, chiếc dép lê mòn gót cọ lên mặt đá nghe sột soạt.
Hứa Sâm nhìn theo, khịt mũi:
– Làm ăn kiểu đó thì nghèo tới già.
Ông chủ kho miễn cưỡng, gom tiền bỏ vô ngăn kéo. Thương vụ chốt nhanh gọn. Xe của Hứa Sâm được gọi tới chở hàng đi ngay trong buổi trưa. Cái nóng hôm đó không chỉ đốt mặt đường, mà còn đốt luôn cái mớ hàng mà Hứa Sâm vừa ôm về.
Mấy ngày sau, Hứa Sâm chạy đôn chạy đáo tìm mối bán. Thị trường phế liệu đang chậm. Giá sắt xuống thấp. Đám lò luyện chê hàng gỉ nhiều, phải phân loại lại, tốn công. Có chỗ trả giá thấp hơn dự tính của y gần một nửa.
Hứa Sâm nghiến răng, nhưng không dám ôm hàng lâu. Tiền gã bỏ ra là tiền mặt, vay nóng. Giữ càng lâu càng lỗ.
Cũng chính buổi trưa hôm Hứa Sâm ôm mớ phế liệu ở Trần Chánh Chiếu, Lâm Huê Hồ rẽ qua một con hẻm nhỏ gần bến Bình Đông. Ở đó, một xưởng mộc cũ đang dọn kho. Mấy thùng đinh cũ, khung sắt mỏng, vài tấm đồng vụn lẫn trong gỗ mục không ai để ý.
Với con mắt nhà nghề, Lâm Huê Hồ nhận ra những miếng đồng bị vứt lẫn trong đống rác gỗ. Y hỏi khẽ:
– Bán hết bao nhiêu?
Giá đưa ra rẻ hơn phân nửa mớ hàng Hứa vừa mua. Hai ngày sau, số đồ đó được Lâm bán lại với giá cao ngất ngưỡng, làm nguồn vốn tăng thêm nữa.
Hứa Sâm nghe được tức tối lắm. Với Lâm Huê Hồ, thua một mối trước mắt không quan trọng. Quan trọng là biết mình đang bỏ cái gì để nhặt cái gì khác. Và chính những lần “nhường” như vậy, đã mở ra cho Lâm Huê Hồ những con đường mà Hứa Sâm, với cái tính nóng nảy và ham hơn thua, không bao giờ có được.

Hội Tam Hoàng Sài Gòn - Chợ Lớn (Kỳ 4)
Doanh nhân Lưu Ngọc Long Thanh - người phụ nữ quyền lực của Vietbamboo và dự án mở hãng hàng không tại Việt Nam
Hội Tam Hoàng Sài Gòn - Chợ Lớn (Kỳ 5)
Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty cổ phần Golden Dragon Corporate quý phái,sang trọng tại lễ ký kết xây dựng dự án bệnh viện
Kiều Nguyễn Phương Duy - Chàng trai nhẹ nhàng nhưng sâu lắng
Lễ công bố Quyết định và trao Giấy chứng nhận kiểm định chất lượng cấp cơ sở giáo dục
Hội Tam Hoàng Sài Gòn - Chợ Lớn (Kỳ 9)
Doanh nhân hát hội tụ dàn thí sinh đầy tiềm năng
“Nàng tiên cá” đến vương quốc Thái Lan
Câu lạc bộ Doanh nhân Bạc Liêu – Cà Mau tại Thành Phố Hồ Chí Minh họp mặt ‘Cà phê Đồng hương’ lần 2